Điều trị

Phác đồ mới có hiệu quả trong điều trị bệnh vẩy nến mảng bám

Bệnh nhân có bệnh vẩy nến mảng bám ở mức độ từ vừa đến nặng mà đã được điều trị với guselkumab (Janssen), một kháng thể đơn dòng người theo dõi chống lại IL-23, cho thấy cải thiện các triệu chứng không có các tác dụng phụ nghiêm trọng, các phát hiện từ giai đoạn II, biểu thị.

Guselkumab đạt đến điểm nghiên cứu chính, giảm điểm đánh giá toàn cầu của bác sĩ (PGA) từ ≥3 xuống còn 0 hoặc 1 sau 16 tuần điều trị ở 34,1% -87,5% bệnh nhân so với 7,1% ở nhóm giả dược và 58,1% ở nhóm giả dược cánh tay adalimumab ( Humira, AbbVie ).

Kristina Callis-Duffin, MD, Trường Y thuộc Đại học Utah, Thành phố Salt Lake và các cộng sự đã trình bày dữ liệu tạm thời từ cuộc thử nghiệm X-PLORE trong Hội nghị Thường niên Da liễu Hoa Kỳ năm 2014 .

Tổng cộng có 293 người tham gia với bệnh vẩy nến mảng bám màng từ vừa đến nặng được phân ngẫu nhiên vào guselkumab, adaliumumab hoặc giả dược trong giai đoạn 2 đang tiến hành, nghiên cứu 7 cánh tay đối chứng giả dược và giả dược ngẫu nhiên.

Nhìn chung, 71% số người tham gia là nam giới với độ tuổi 45 năm trung bình. Phần lớn bệnh nhân (94%) tiếp tục dùng thuốc nghiên cứu trong khoảng thời gian 16 tuần.

Liều Guselkumab như sau: 5 mg mỗi 12 tuần (nhóm 1); 15 mg mỗi 8 tuần (nhóm 2); 50 mg mỗi 12 tuần (nhóm 3); 100 mg mỗi 8 tuần (nhóm 4); và 200 mg mỗi 12 tuần (nhóm 5).

Bệnh vẩy nến được xác định bởi chỉ số PASI (Psoriasis Area and Severity Index) lớn hơn 12, điểm đánh giá toàn cầu của bác sĩ (PGA) lớn hơn 3, và sự tham gia của cơ thể trên bề mặt cơ thể (BSA) ít nhất là 10%.

Khi bắt đầu nghiên cứu, 54% bệnh nhân có điểm PGA 3, điểm số PASI trung bình là 18.2 và mức trung vị BSA là 20%.

Tỷ lệ bệnh nhân theo nhóm dùng thuốc đạt đến điểm cuối tiên của PGA là 0 hoặc 1 vào thời điểm 16 tuần như sau:

  • Nhóm 1: 34,1%
  • Nhóm 2: 61%
  • Nhóm 3: 78,6%
  • Nhóm 4: 85,7%
  • Nhóm 5: 83,3%

Tất cả các nhóm đạt được cải thiện PGA trên lâm sàng ( P <0,001) so với giả dược, trừ nhóm 5 mg (nhóm 1, P = 0,002).

Trong nhóm adalimumab, 58,1% số người tham gia đạt đến kết cục chính, cũng như 7,1% ở nhóm giả dược.

Các tác dụng ngoại ý phổ biến nhất là nhiễm trùng (mũi họng và hô hấp trên), nhưng không có mối liên hệ liều – đáp ứng được xác định. Hai bệnh nhân ở cánh tay 50 mg phát triển nhiễm trùng nghiêm trọng ở tuần 16. Phản ứng tại chỗ tiêm ở nhóm adalimumab cao nhất là 6,6% so với 0,6% ở cánh tay guselkumab và 0,6% ở nhóm dùng giả dược.

Các nhà nghiên cứu kết luận: “Các kết quả tạm thời từ thử nghiệm pha 2 đang diễn ra ở bệnh nhân vẩy nến mảng bám ở mức độ từ vừa đến nặng có thể chứng tỏ hiệu quả cao khi đánh giá liều guselkumab.

Nguồn tham khảo thêm :

  1. Callis-Duffin K. Abstract #P8353. Presented at: American Academy of Dermatology Annual Meeting; March 21-25, 2014: Denver.
Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s